Vai trò của tài chính công

Vai trò của tài chính công

Tài chính công có nhiều vai trò khác nhau, trong từng lĩnh vực và hoạt động khác nhau, có thể tóm lược trong năm nội dung chính dưới đây:

(1) Vai trò của tài chính công trong huy động nguồn lực tài chính để đảm bảo tăng trưởng kinh tế thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước

Hoạt động của nhà nước trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội luôn đòi hỏi phải có các nguồn tài chính để chi tiêu cho những mục đích xác định. Các nhu cầu này được thỏa mãn từ các nguồn thu bằng hình thức thuế và thu ngoài thuế. Khi đó, tài chính công huy động nguồn tài chính đảm bảo hoạt động của nhà nước và hệ thống chính trị, từ đó đảm bảo tăng trưởng kinh tế thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Vai trò huy động nguồn lực tài chính để đảm bảo tăng trưởng kinh tế thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước là vai trò truyền thống của tài chính công, tồn tại trong bất cứ thời đại, chế độ xã hội nào kể từ khi nhà nước ra đời. Vai trò này xuất phát từ sự cần thiết khách quan của việc ra đời của nhà nước với chức năng quản lý kinh tế xã hội.

(2) Vai trò của tài chính công trong điều chỉnh kinh tế xã hội ở tầm vĩ mô và khuyến khích kinh tế vi mô phát triển

Vai trò của tài chính công trong điều chỉnh kinh tế xã hội ở tầm vĩ mô và khuyến khích kinh tế vi mô phát triển xuất hiện trước nhu cầu phải có sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế nhằm khắc phục những hạn chế của nền kinh tế thị trường, giúp nền kinh tế – xã hội phát triển cân đối, hợp lý và ổn định. Đây là một công cụ hữu ích và chủ yếu để nhà nước thực hiện vai trò điều tiết vĩ mô của mình. Vai trò này thể hiện ở những khía cạnh chính sau đây:

– Nhà nước dùng các công cụ tài chính để can thiệp vào thị trường thông qua các chính sách chi tiêu dưới hình thức tài trợ vốn, trợ giá và sử dụng các quỹ dự trữ nhà nước về hàng hóa và dự trữ tài chính, từ đó ổn định môi trường kinh tế vĩ mô.

– Chính sách chi tiêu công tác động bình ổn môi trường kinh tế vĩ mô ở hai khía cạnh:

+ Chính sách chi tiêu của nhà nước đã tác động vào thị trường hàng hóa và hình thành một thị trường đặc biệt – thị trường nhà nước. Thị trường này mở rộng làm tổng cầu của xã hội mở rộng, nhờ đó kích thích sản xuất phát triển. Vì vậy, thị trường nhà nước trở thành một công cụ kinh tế quan trọng để nhà nước tài tạo lại cân bằng của thị trường hàng hóa khi bị mất cân đối.

+ Chính sách chi tiêu công tác động tới thị trường tiền tệ và thị trường vốn thông qua chính sách cân đối ngân sách nhà nước, khai thác các nguồn vốn vay trong và ngoài nước bằng phát hành trái phiếu chính phủ, thu hút viện trợ nước ngoài, tham gia thị trường vốn với tư cách người mua bán chứng khoán…

(3) Vai trò của tài chính nhà nước trong việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế – xã hội của nhà nước

Vai trò này được thể hiện ở hai khía cạnh chính trong các nhiệm vụ kinh tế, xã hội của nhà nước: (i) Đầu tư tăng trưởng và điều chỉnh cơ cấu kinh tế, (ii) Thực hiện công bằng xã hội.

Thứ nhất, tài chính công đầu vào cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội và thực hiện ưu đãi về tín dụng hoặc thuế nhằm khuyến khích phát triển một số ngành kinh tế then chốt, tạo lực đẩy cho kinh tế phát triển nhằm đổi mới cơ cấu kinh tế năng động hơn, tích cực hơn; ưu đãi đầu tư cho những vùng kinh tế trọng điểm hoặc những vùng sâu vùng xa cần hỗ trợ, từ đó góp phần đầu tư tăng trưởng và điều chỉnh cơ cấu kinh tế một cách hiệu quả.

Thứ hai, tài chính công thực hiện phân phối lại, điều tiết thu nhập giữa các ngành nghề, các khu vực, các giai cấp và tầng lớp xã hội để khắc phục tình trạng phân phối thu nhập không hợp lý, tạo chênh lệch quá đáng giữa các ngành và các tầng lớp trong xã hội (khắc phục những khuyết tật của nền kinh tế thị trường). Cụ thể là tài chính công chi phúc lợi công cộng, chi trợ cấp với những người gặp hoàn cảnh khó khăn, chi hỗ trợ việc làm cho người nghèo, người tàn tật thông qua tín dụng ưu đãi, và thông qua thuế thu nhập, thuế lợi ích, … để điều tiết thu nhập cao, phân phối lại cho các đối tượng thu nhập thấp.

(4) Vai trò của tài chính nhà nước trong việc đảm bảo duy trì sự tồn tại và hoạt động của bộ máy nhà nước

Vai trò của tài chính nhà nước trong việc đảm bảo duy trì sự tồn tại và hoạt động của bộ máy nhà nước được thể hiện ở những nội dung sau:

– Tài chính công nói chung và NSNN nói riêng đảm bảo đáp ứng đúng và đủ nhu cầu chi tiêu của bộ máy nhà nước, đảm bảo sự tồn tại và hoạt động của bộ máy này.

– Tài chính công khai thác, động viên và tập trung các nguồn tài chính để đáp ứng đầy đủ, kịp thời cho các nhu cầu chi tiêu đã được Nhà nước dự tính cho từng thời kỳ phát triển.

– Tài chính công phối các nguồn tài chính đã tập trung được cho các nhu cầu chi tiêu theo những quan hệ tỷ lệ hợp lý nhằm vừa đảm bảo duy trì sự tồn tại và tăng cường sức mạnh của bộ máy nhà nước, vừa bảo đảm thực hiện các chức năng KT-XH của nhà nước đối với các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế.

– TCC kiểm tra, giám sát để đảm bảo cho các nguồn tài chính đã phân phối được sử dụng một cách hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả nhất, đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của quản lý nhà nước và PTKTXH.

Các bài có thể xem thêm

Đặc điểm của tài chính công

+ Kết cấu luận văn thạc sĩ

Vai trò của tín dụng ngân hàng

Đặc điểm của tài chính công là gì

Đặc điểm của tài chính công

Về đặc điểm của tài chính công, tác giả tổng hợp bằng hình dưới đây:

Tài chính công có bốn đặc điểm chính: (1) Phản ánh quan hệ tài chính giữa nhà nước với các chủ thể, (2) Mang tính chủ thể, (3) Mang tính công cộng, (4) Kết hợp tính không bồi hoàn, bồi hoàn, kết hợp tính bắt buộc và tính tự nguyện.

Thứ nhất, Tài chính công phản ánh quan hệ tài chính giữa nhà nước với các chủ thể, bao gồm: Tài chính tư, tài chính nhà nước, tài chính doanh nghiệp, tài chính các tổ chức xã hội.

Đặc điểm của quan hệ tài chính công được thể hiện như sau:

–    Các quan hệ tài chính công luôn gắn chặt với sở hữu công cộng về tài sản, luôn chứ đựng lợi ích chung, lợi ích công cộng

–     Các nguồn lực tài chính công vận động từ nơI tạo ra nó đến mục tiêu sử dụng nó đều thông qua việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ.

–    Các nguồn lực tài chính công rất đa dạng phức tạp, việc phân phối và phân bổ chúng được thực hiện qua các quan hệ tài chính nó không những động chạm đến lợi ích của người đóng góp và người được thừa hưởng mà còn tác động sâu sắc đến tất cả các vấn đề chính trị kinh tế xã hội quốc phòng, an ninh và đối ngoại của một quốc gia vì thế đòi hỏi nhà nước phải đặc biệt quan tâm ,điều chỉnh nhằm phục vụ tốt cho nhiệm vụ chính trị của đất nước.

Thứ hai, tài chính công mang tính chủ thể. Nhận thức đầy đủ đặc điểm về tính chủ thể của tài chính công có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo quyền lãnh đạo tập trung thống nhất của nhà nước. Tính chủ thể được biểu hiện ở những khía cạnh dưới đây:

(1) Nhà nước là chủ thể duy nhất quyết định việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của nhà nước, nhằm duy trì sự tồn tại của bộ máy nhà nước, và thực hiện các chức năng kinh tế- xã hội của nhà nước. Cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nước là Quốc hội, quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại,nhiệm vụ kinh tế xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước…Do đó quốc hội là cơ quan cao nhất của nhà nước quyết định chính sách tiền tệ quốc gia, quyết định dự toán ngân sách nhà nướcvới tổng số và cơ cấu thu chi…

(2) Về cơ bản , các khoản thu của nhà nước mang tính chất không bồi hoàn và bắt buộc như : thuế GTGT, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu…Các khoản vay nợ tuy không thuộc sở hữu của nhà nước nhưng trong thời gian cò trong tay nhà nước việc sử dụng nó hoàn toàn do nhà nước quyết định, và nhà nước phai có trách nhiệm trả đầy đủ đúng hạn.Các quỹ tài chính công ngoài ngân sách có thể được hình thành nên một phần từ ngân sách nhà nước, một phần là vốn góp của các tổ chức kinh tế xã hội, cá nhân, hộ gia đình nhưng quyết định thành lập và sử dụng vẫn là nhà nước.

(3) Để phục vụ cho việc thực hiện các chức năng của mình nhà nươc có thể thực hiện chi tiêu tài chính công bằng phương pháp cấp phát (không bồi hoàn) hoặc cho vay (có ưu đãi).

Thứ ba, tài chính công có tính công cộng, được thể hiện ở những điểm sau:

–    Mục đích của tài chính công là để phục vụ cho việc thực hiện các chức năng kinh tế xã hội của nhà nước.

–    Thu nhập của tài chính công có thể đượ lấy từ nhiều nguồn khác nhau , từ mọi lĩnh vực hoạt động, từ mọi chủ thể kinh tế xã hội, ở trong nước và cả từ nước ngoài.

–    Chi tiêu của tài chính công chủ yếu tập trung cho xây dung cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, đầu tư cho một số ngành mũi nhọn, những công trình quan trọng có vai trò lớn trong phát triển kinh tế ; thự hiện chiến lược phát triển con người …

Thứ tư, tài chính công mang tính kết hợp giữa tính không bồi hoàn và bồi hoàn và giữa tính bắt buộc và tính tự nguyện.

Các bài có thể xem thêm

Phân loại tín dụng ngân hàng

+ Kết cấu luận văn thạc sĩ

Vai trò của tín dụng ngân hàng

Hướng dẫn hình thức, kết cấu luận van và tóm tắt luận văn thạc sĩ kinh tế

 

Luận văn và tóm tắt luận văn là cơ sở để hội đồng đánh giá chất lượng luận văn thạc sĩ. Luận văn và tóm tắt luận văn phải phản ánh đầy đủ nội dung, kết quả thực hiện đề tài. Luận văn và tóm tắt luận văn phải đóng thành quyển theo quy định.

Hình thức của luận văn

 

Luận văn được in trên một mặt giấy khổ A4 (210x297mm);

Số trang của luận văn từ 70 trang đến 80 trang (không tính mục lục, tài liệu tham khảo và phụ lục), font chữ Time New Roman, cỡ chữ 13-14, paragraph 1.3-1.5 lines, lề trên 3.5cm, lề dưới 3cm, lề trái 3.5cm, lề phải 2cm. Số trang của luận văn đánh ở giữa, phía trên đầu mỗi trang giấy, từ 1 đến hết (bắt đầu từ phần Mở đầu). Thứ tự trang của các thông tin trước phần Mở đầu (lời cam đoan, mục lục, danh mục các từ viết tắt, danh mục bảng biểu, hình vẽ…) đánh số trang theo kí hiệu bằng chữ i (i, ii, iii, iv,…). Nếu có bảng, biểu, hình vẽ trình bày theo chiều ngang khổ giấy thì đầu bảng là lề trái của trang.

Các tiểu mục của luận văn được trình bày và đánh số thành nhóm chữ số, nhiều nhất gồm 4 chữ số, với số thứ nhất chỉ số chương. Tại mỗi nhóm tiểu mục phải có ít nhất 2 tiểu mục, nghĩa là không thể có tiểu mục 2.1.1 mà không có tiểu mục 2.1.2 tiếp theo.

Hướng dẫn hình thức, kết cấu luận van và tóm tắt luận văn thạc sĩ kinh tế
Hướng dẫn hình thức, kết cấu luận van và tóm tắt luận văn thạc sĩ kinh tế

Cấu trúc luận văn và tóm tắt luận văn

Luận văn được trình bày theo trình tự sau:

  • Trang bìa (Mẫu 1).
  • Trang bìa phụ (Mẫu 2).
  • Lời cam đoan.
  • Mục lục (làm mục lục các nội dung của Luận văn, chi tiết đến 3 chữ số).
  • Danh mục các chữ viết tắt (lập danh mục các từ viết tắt theo thứ tự ABC).
  • Danh mục bảng biểu, hình vẽ (lập danh mục các bảng biểu, sơ đồ, hình vẽ theo trình tự xuất hiện trong Luận văn).
  • Mở đầu: trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài luận văn ở trong và ngoài nước; tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu; mục tiêu; phương pháp nghiên cứu; đối tượng và phạm vi nghiên cứu; ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu; kết cấu luận văn.
  • Các Chương 1, 2, 3,…: trình bày kết quả nghiên cứu đạt được của luận văn. Khuyến khích thực hiện đề tài luận văn bằng các phương pháp đánh giá định lượng trên cơ sở thông tin sơ cấp thu thập được từ phiếu khảo sát điều tra, phỏng vấn và phân tích đánh giá bằng các chương trình, phần mềm tin học và kinh tế lượng.

 

 

Lưu ý: Số chương của luận văn do Người hướng dẫn khoa học và Học viên quyết định căn cứ vào tên đề tài, mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu.

Kết luận: kết luận về các nội dung nghiên cứu đã thực hiện; những định hướng nghiên cứu có thể tiếp tục trong tương lai nhằm phát triển và hoàn thiện đề tài nghiên cứu.

Tài liệu tham khảo: sắp xếp riêng theo từng ngôn ngữ (Việt, Anh, Pháp,…). Các tài liệu nước ngoài phải giữ nguyên văn, không phiên âm, không dịch. Tài liệu tham khảo xếp theo thứ tự ABC theo họ tên tác giả theo thông lệ của từng nước (tác giả là người nước ngoài xếp thứ tự theo họ; tác giả là người Việt Nam xếp thứ tự theo tên), hoặc tên tổ chức phát hành theo thứ tự abc; tài liệu tiếng Việt đưa lên trước, theo mẫu sau:

Tiếng Việt

Nguyễn Văn A (2009), Giáo trình quản trị tài chính, Nhà xuất bản Thống kê.

Bộ Công thương (2010), Báo cáo tổng kết 5 năm…., Hà Nội.

Nguyễn Hữu Lam (2007), Quản lý tri thức – Một xu hướng của quản trị kinh doanh hiện đại.

 

Tiếng Anh

Timothy J.Gallagher & Jozeph D. Andrew (2003), Financial Management – Principles & Practice, Prentice Hall

Phụ lục: đưa vào phần phụ lục các nội dung chi tiết hoặc bổ trợ thêm cho nội dung nghiên cứu của luận văn do tác giả thực hiện như: mẫu phiếu điều tra, bảng tổng hợp kết quả điều tra,… Số trang của Phụ lục không được nhiều hơn số trang phần chính của luận văn.

Tóm tắt luận văn

Tóm tắt luận văn được trình bày theo trình tự của luận văn, phản ánh trung thực kết cấu, bố cục và nội dung của luận văn. Tóm tắt luận văn (in cả 2 mặt, khổ 140×210 mm) không quá 20 trang, font chữ Time New Roman, cỡ chữ 11-12, paragraph 1.1-1.3 lines. Lề trên, dưới, trái, phải đều là 2cm.

Các bài có thể xem thêm:

Đặc điểm của tài chính công

Vai trò của tài chính công

Khái niệm tín dụng ngân hàng

Vai trò của tín dụng ngân hàng

Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng ngân hàng

Tỷ lệ nợ quá hạn

Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của thống đốc NHNN Việt Nam có quy định là: Nợ xấu (NPL) là các khoản nợ thuộc nhóm 3, 4 và 5:

Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn):

Bao gồm:

Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày;

Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2 theo quy định tại Điểm b Khoản này;

Các khoản nợ được miễn giảm hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng;

Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại khoản 3 Điều này.

Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ):

Bao gồm:

Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày;

Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn được cơ cấu lại lần đầu;

Các khoản nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai;

Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 4 theo quy định tại khoản 3 Điều này.

Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn):

Bao gồm:

Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày

Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu

Các khoản nợ cCông thức

Ý nghĩa

Tỷ lệ nợ quá hạn cho ta biết trong một đồng dư nợ có bao nhiêu đồng là nợ quá hạn. Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và hoặc lãi đã quá hạn. Tỷ lệ nợ quá hạn cao chứng tỏ chất lượng tín dụng thấp. Ngân hàng cần có các biện pháp kiểm tra, giám sát các khoản vay của mình thật chặt chẽ nhằm nâng cao chất lượng tín dụng.

        Mục tiêu phấn đấu của ngân hàng thương mại là không để xảy ra nợ quá hạn. Tuy nhiên trong thực tế điều này rất khó thực hiện, vì vậy khi đánh giá về chất lượng tín dụng cần phải xem xét đến nợ quá hạn.

Tỷ lệ nợ xấu

Công thức:

Ý nghĩa:

Tỷ lệ nợ xấu cho ta biết trong một đồng dư nợ có bao nhiêu đồng là nợ xấu. Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là tỷ lệ đánh giá chất lượng tín dụng của tổ chức tín dụng. Nợ xấu có độ rủi ro rất cao, khả năng thu hồi vốn là tương đối khó, khoản vốn của ngân hàng lúc này không còn là rủi ro nữa, mà đã gây thiệt hại cho ngân hàng. Đây là kết quả trực tìếp biểu hiện chất lượng của khoản tín dụng cấp cho khách hàng. Một ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu cao chứng tỏ chất lượng tín dụng của ngân hàng là rất thấp và lúc này cần phải xem xét lại toàn bộ hoạt động tín dụng của mình nếu không hậu quả khó lường trước được.

Theo quyết định 18/2007/QĐ-NHNN về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng ban hành theo ơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai;

Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn

Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý

Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 5 theo quy định tại Khoản 3 Điều này.

Tổng dư nợ

        Tổng dư nợ là một chỉ tiêu phản ánh khối lượng tiền ngân hàng cấp cho nền kinh tế tại một thời điểm. Tổng dư nợ bao gồm dư nợ cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn. Tổng dư nợ thấp chứng tỏ hoạt động tín dụng của ngân hàng yếu kém, không có khả năng mở rộng khách hàng, khả năng tiếp thị của ngân hàng kém, trình độ cán bộ công nhân viên thấp… Mặc dù vậy, chỉ tiêu này cao thì chưa hẳn chất lượng khoản vay tốt. Song nếu tổng dư nợ tăng liên tục qua các năm thì lại cho thấy chiều hướng tăng lên của chất lượng tín dụng.

Hiệu suất sử dụng vốn

Công thức:

Ý nghĩa:

Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn cho ta biết trong một đồng vốn huy động được thì bao nhiêu đồng được sử dụng trong cho vay. Đây là chỉ tiêu phản ánh quy mô, khả năng tận dụng nguồn vốn trong cho vay của các ngân hàng thương mại. Hiệu suất sử dụng càng cao thì hoạt động kinh doanh ngày càng có hiệu quả và ngược lại.

Vòng quay vốn tín dụng

Công thức:

Ý nghĩa:

Đây là chỉ tiêu thường được các ngân hàng tính toán hàng năm để đánh giá khả năng tổ chức quản lý vốn tín dụng và chất lượng tín dụng trong việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng.

        Hệ số này phản ánh số vòng chu chuyển của vốn tín dụng. Vòng quay vốn tín dụng càng cao chứng tỏ nguồn vốn vay ngân hàng đã luân chuyển nhanh, tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất và lưu thông hàng hóa. Với một số vốn nhất định, nhưng do vòng quay vốn tín dụng nhanh nên ngân hàng đã đáp ứng được nhu cầu vốn cho các doanh nghiệp, mặt khác ngân hàng có vốn để tiếp tục đầu tư vào các lĩnh vực khác. Như vậy, hệ số này càng tăng thì phản ánh tình hình tổ chức vốn tín dụng càng tốt, chất lượng tín dụng càng cao.

Tỷ lệ lợi nhuận từ hoạt động tín dụng

Công thức:

Ý nghĩa:

Không thể nói một khoản tín dụng có chất lượng cao khi nó không đem lại khoản thu nhập cho ngân hàng. Nguồn thu từ hoạt động tín dụng là nguồn thu chủ yếu để ngân hàng tồn tại và phát triển. Lợi nhuận do tín dụng mang lại chứng tỏ các khoản vay không những thu hồi được gốc mà còn có lãi, đảm bảo được độ an toàn của đồng vốn vay.

Ta thấy rằng nếu ngân hàng thương mại chỉ chú trọng việc giảm và duy trì một tỷ lệ nợ quá hạn thấp mà không tăng được thu nhập từ hoạt động tín dụng thì tỷ lệ nợ quá hạn thấp đó cũng không có ý nghĩa. Chất lượng tín dụng được nâng cao chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó góp phần nâng cao khả năng sinh lời của ngân hàng.

Mức sinh lời từ hoạt động tín dụng

Công thức:

Ý nghĩa:

Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của tín dụng, cứ một đồng vốn đầu tư tín dụng thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ chất lượng tín dụng càng tốt.

Các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng ngân hàng

Yếu tố thuộc về ngân hàng

Trình độ cán bộ ngân hàng

Trình độ cán bộ ngân hàng cao thì trong quá trình hoạt động kinh doanh, mọi thao tác nghiệp vụ đều được thực hiện nhanh chóng, chính xác và có hiệu quả, từ đó ngân hàng có điều kiện mở rộng kinh doanh giảm thấp chi phí hoạt động và thu hút được khách hàng

Chiến lược kinh doanh

Mỗi ngân hàng thương mại cần đề ra cho mình những chiến lược kinh doanh phù hợp với tiềm lực và thế mạnh của mình để không rơi vào thế bị động trong hoạt đông kinh doanh của mình. Dựa trên chiến lược kinh doanh dài hạn đúng đắn, ngân hàng thương mại mới có thể có những kế hoạch đúng đắn cho từng thời kỳ để đảm bảo thực hiện mục tiêu đề ra.

Chính sách tín dụng

Chính sách tín dụng của một ngân hàng thương mại là một hệ thống những biện pháp liên quan đến việc tăng cường khả năng tín dụng hoặc hạn chế tín dụng để đạt được mục tiêu đề ra của ngân hàng thương mại. Chính sách tín dụng đảm bảo cho hoạt động của ngân hàng đi đúng hướng, nó quyết định sự thành công hay thất bại của hoạt động tín dụng nói riêng và toàn bộ hoạt động của ngân hàng thương mại nói chung.

Quy trình tín dụng

Các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng ngân hàng
Các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng ngân hàng

Quy trình tín dụng bao gồm những bước phải thực hiện trong quá trình cho vay thu nợ nhằm đảm bảo an toàn vốn tín dụng; được bắt đầu từ khi chuẩn bị cho vay, phát tiền vay, kiểm tra quá trình sử dụng vốn đến khi thu hồi được nợ. Chất lượng tín dụng có được đảm bảo hay không tuỳ thuộc vào việc thực hiện tốt các quy định ở từng bước và phối hợp nhịp nhàng giữa các bước trong quy trình tín dụng.

Hệ thống thông tin tín dụng

Trên thực tế không phải khách hàng nào cũng sử dụng vốn tín dụng đúng mục đích và có chất lượng vì vậy hoạt động tín dụng muốn tăng trưởng, có hiệu quả đòi hỏi phải có hệ thống thông tin hữu hiệu phục vụ nắm bắt kịp thời, chính xác các nguồn thông tin về khách hàng, phân tích tìm ra những cơ hội tốt trong kinh doanh cũng như để phòng chống rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động của mỗi ngân hàng thương mại.

Vấn đề kiểm tra, giám sát, thanh tra

Một trong những nghiệp vụ hoạt động nhằm giúp cho ngân hàng tránh được các rủi ro trong hoạt động tín dụng là công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm soát. Công tác này không chỉ thực hiện với khách hàng mà còn với bản thân ngân hàng.

Yếu tố khách hàng

Những nhân tố về khách hàng ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại là:

Năng lực sản xuất kinh doanh, trình độ quản lý của khách hàng.

Những kiến thức cơ bản của khách hàng trong việc vay vốn.

Tính trung thực và chính xác của những thông tin mà khách hàng cung cấp cho ngân hàng.

Sự chây ì của khách hàng.

Tính đúng mục đích của việc sử dụng vốn.

Việc chiếm dụng vốn hoặc bị lừa đảo.

Chủ trương chính sách của Ngân hàng nhà nước

Những chủ trương chính sách của NHNN –Cơ quan quản lý vĩ mô trực tiếp của các ngân hàng thương mai có tác động hết sức lớn tới hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại. NHNN đưa ra những định hướng lớn và đôi khi cả những hướng dẫn chi tiết cho hoạt động của các ngân hàng thương mại, đặc biệt là hoạt động tín dụng nhằm thực hiện mục tiêu điều tiết vĩ mô và quản lý. Chât lượng tín dụng của ngân hàng thương mại cũng chịu ảnh hưởng của những chủ trương đó khi mà một ngân hàng thương mại không thể đi ngược lại chúng.

Ngoài ra, cơ chế, chính sách của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác có tác động đến mọi hoạt động của nền kinh tế nên cũng tác động trực tiếp đến khách hàng vay vốn của ngân hàng

Môi trường kinh tế

Một nền kinh tế có mức tăng trưởng ổn định sẽ làm giá cả luôn giữ ở mức ổn định, tình hình lạm phát ở mức thấp tạo điều kiện cho ngân hang thương mại mở rộng quy mô hoạt động của mình và tránh được những thiệt hại cho ngân hàng do sự mất giá của đồng tiền…

Một quốc gia ổn định về chính trị, không có chiến tranh. Trong xã hội có nhiều truyền thống tốt đẹp, ít tệ nạn xã hội như lừa đảo làm ăn phi pháp cũng góp phần nâng cao chất lượng tín dụng.

Nhân tố bất khả kháng

Khách hàng của ngân hàng có thể phải đối mặt với những nhân tố bất khả kháng như thiên tai, chiến tranh, hoả hoạn, dịch bệnh… Những thay đổi này có thể tạo thuận lợi hay khó khăn cho họ. Nếu khó khăn, trong một số trường hợp khách hàng bị thiệt hại nhưng vẫn hoàn trả nợ cho ngân hàng đúng hạn. Tuy vậy thường thì tác động của các nhân tố bất khả kháng như trên rất nặng nề. Tổn thất lớn và khả năng trả nợ ngân hàng bị suy giảm. Thậm chí không còn khả năng trả nợ. Các nhân tố này được coi là bất khả kháng vì chúng thường vượt qua tầm kiểm soát của các ngân hàng và khách hàng.

 

Khái niệm và đặc trưng của tín dụng ngân hàng

Khái niệm tín dụng ngân hàng

     Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng phát sinh giữa các ngân hàng, các tổ chức tín dụng với các đối tác kinh tế – tài chính của toàn xã hội, bao gồm doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức xã hội, cơ quan nhà nước.

Đặc trưng của tín dụng ngân hàng

        Có thể nhận thấy về thực chất tín dụng là một quan hệ kinh tế giữa ngư­ời cho vay và ngư­ời đi vay, giữa họ có mối quan hệ với nhau thông qua sự vận động của giá trị vốn tín dụng đ­ược biểu hiện dư­ới hình thức tiền tệ và hàng hoá từ ng­ười cho vay chuyển sang ngư­ời đi vay và sau một thời gian nhất định quay về với ngư­ời cho vay với lư­ợng giá trị lớn hơn ban đầu. Tín dụng đ­ược cấu thành nên từ sự kết hợp của ba yếu tố chính là: lòng tin (sự tin t­ưởng vào khả năng hoàn trả đầy đủ và đúng hạn của người cho vay đối với ngư­ời đi vay); thời hạn của quan hệ tín dụng (thời gian ngư­ời vay sử dụng tiền vay); sự hứa hẹn hoàn trả. Và như­ vậy, phạm trù tín dụng có các đặc tr­ưng chủ yếu sau:

Tín dụng là có lòng tin

Bản thân từ “tín dụng” xuất phát từ tiếng la-tinh “creditum” có nghĩa là “sự giao phó” hay “sự tín nhiệm”. Nghiên cứu khái niệm tín dụng cũng cho ta thấy tín dụng là sự cho vay có hứa hẹn thời gian hoàn trả. Sự hứa hẹn biểu hiện “mức tín nhiệm” hay “lòng tin” của ngư­ời cho vay vào ng­ười đi vay. Yếu tố lòng tin tuy vô hình nh­ưng không thể thiếu trong quan hệ tín dụng, đây là yếu tố bao trùm trong hoạt động tín dụng, là điều kiện cần cho quan hệ tín dụng phát sinh.

Trong quan hệ tín dụng “lòng tin” đư­ợc biểu hiện từ nhiều phía, không chỉ có lòng tin từ một phía của ng­ười cho vay đối với ngư­ời đi vay. Nếu ngư­ời cho vay không tin tư­ởng vào khả năng hoàn trả của ngư­ời đi vay thì quan hệ tín dụng có thể không phát sinh và ng­ược lại, nếu ng­ười đi vay cảm nhận thấy ng­ười cho vay không thể đáp ứng đư­ợc yêu cầu về khối l­ượng tín dụng, về thời hạn vay,…thì quan hệ tín dụng cũng có thể không phát sinh. Tuy nhiên, trong quan hệ tín dụng lòng tin của người cho vay đối với người đi vay quan trong hơn nhiều bởi lẽ người cho vay là ngư­ời giao phó tiền bạc hoặc tài sản của họ cho ng­ười khác sử dụng.

Khái niệm và đặc trưng của tín dụng ngân hàng
Khái niệm và đặc trưng của tín dụng ngân hàng

Tín dụng là có tính thời hạn

Khác với các quan hệ mua bán thông thư­ờng khác, quan hệ tín dụng chỉ trao đổi quyền sử dụng giá trị khoản vay chứ không trao đổi quyền sở hữu khoản vay. Ng­ười cho vay giao giá trị khoản vay dưới dạng hàng hoá hay tiền tệ cho ng­ười kia sử dụng trong một thời gian nhất định. Sau khi khai thác giá trị sử dụng của khoản vay trong thời hạn cam kết, ng­ười đi vay phải hoàn trả toàn bộ giá trị khoản vay cộng thêm khoản lợi tức hợp lý kèm theo như­ cam kết đã giao ư­ớc với ngư­ời cho vay.

Mọi khoản vay dư­ới dạng hiện vật hay tiền tệ cũng đều là hàng hoá và vì thế nó cũng có giá trị và giá trị sử dụng. Trong kinh doanh tín dụng ngư­ời cho vay chỉ bán “giá trị (hay quyền) sử dụng của khoản vay” chứ không bán “giá trị của khoản vay”, nên sau khi hết thời gian sử dụng theo cam kết, khoản vay đó đ­ược hoàn trả về và vẫn giữ nguyên giá trị của nó, phần lợi tức theo thoả thuận nếu có là “giá bán” quyền sử dụng khoản vay trong thời gian nhất định. Nh­ư vậy, khối lư­ợng hàng hoá hay tiền tệ (phần gốc) cho vay ban đầu chỉ là vật chuyên trở giá trị sử dụng của chúng, nó đư­ợc phát ra qua các thời gian nhất định rồi sẽ thu về chứ không đ­ược bán đứt.

Tín dụng là có tính hoàn trả

Đây là đặc trư­ng thuộc về bản chất vận động của tín dụng và là dấu ấn để phân biệt phạm trù tín dụng với các phạm trù kinh tế khác. Sau khi kết thúc một vòng tuần hoàn của tín dụng, hoàn thành một chu kỳ sản xuất trở về trạng thái tiền tệ, vốn tín dụng đ­ược ngư­ời đi vay hoàn trả cho ng­ười cho vay kèm theo một phần lãi như­ đã thoả thuận.

Một mối quan hệ tín dụng đư­ợc gọi là hoàn hảo nếu đư­ợc thực hiện với đầy đủ các đặc tr­ưng trên, nghĩa là ng­ười đi vay hoàn trả đ­ược đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn.

Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với nền kinh tế quốc dân

Đối với ngân hàng

Hoạt động tín dụng góp phần tạo điều kiện cho ngân hàng thương mại mở rộng được các hoạt động kinh doanh khác nhằm tăng thu nhập cho ngân hàng. Đây là hoạt động sinh lời lớn nhất của ngân hàng với tỷ lệ 70% tổng tài sản. Như vậy nếu hoạt động tín dụng có vấn đề thì ngân hàng cũng khó khăn trong việc kinh doanh.

Tín dụng được xem như là xương sống của ngân hàng, nó quyết định sự tồn tại phát triển của mọi ngân hàng thương mại. Một ngân hàng thương mại chỉ có thể tồn tại và phát triển khi xác định được phạm vi, giới hạn và mức độ tín dụng phù hợp với thực lực của bản thân ngân hàng. Đảm bảo tính cạnh tranh trên thị trường với nguyên tắc hoàn trả đúng thời hạn và có lãi.

Mặt khác tín dụng ngân hàng có ảnh hưởng rất lớn đến vị thế của ngân hàng. Nó là một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định vị thế của ngân hàng.

Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với nền kinh tế quốc dân
Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với nền kinh tế quốc dân

Đối với nền kinh tế

Thứ nhất, tín dụng đã đáp ứng được hầu hết các nhu cầu về vốn của các thành phần kinh tế trong xã hội, giúp cho quá trình sản xuất được liên tục, đẩy mạnh quá trình tái sản xuất. Đồng thời việc tập trung và phân phối vốn tín dụng đã góp phần điều hoà vốn trong nền kinh tế quốc dân từ nơi thừa đến nơi thiếu. Bên cạnh việc đáp ứng vốn kịp thời đầy đủ cho các Doanh nghiệp, các Ngân hàng còn có những ý kiến đóng góp cho phương án sản xuất kinh doanh, lựa chọn đối tác thông qua quá trình sử dụng vốn của Doanh nghiệp…

Thứ hai, tín dụng là kênh chuyển tải tác động của nhà nước đến các mục tiêu kinh tế vĩ mô như việc ổn định giá cả, tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm. Việc bảo đảm được mục tiêu kinh tế vĩ mô hài hoà phụ thuộc một phần vào khối lượng và cơ cấu tín dụng xét cả về mặt thời hạn cũng như đối tượng tín dụng. Mà ở đây khối lượng và cơ cấu tín dụng lại phụ thuộc vào điều kiện tín dụng như lãi suất, điều kiện vay, yêu cầu thế chấp, bảo lãnh và chủ trương mở rộng tín dụng được quy định trong chính sách tín dụng từng thời kỳ. Như vậy, thông qua việc thay đổi và điều chỉnh các điều kiện tín dụng Nhà nước có thể thay đổi quy mô tín dụng hoặc chuyển hướng vận động của nền kinh tế cả về quy mô lẫn kết cấu. Sự thay đổi của tổng cầu dưới tác động của chính sách tín dụng sẽ tác động ngược lại với tổng cung và các điều kiện sản xuất khác. Điểm cân bằng cuối cùng giữa tổng cung và tổng cầu dưới tác động của chính sách tín dụng sẽ cho phép đạt được mục tiêu vĩ mô cần thiết.

Thứ ba, Tín dụng Ngân hàng là công cụ chủ yếu để đầu tư cho các ngành kinh tế then chốt và các ngành kinh tế kém phát triển. Hoạt động tín dụng của Ngân hàng là tạp trung lượng vốn nhàn rỗi trong xã hội của các tổ chức, cá nhân để cho các đơn vị kinh tế vay. Nhưng không phải tất cả các chủ thể có nhu cầu vay đều được Ngân hàng đáp ứng. Bởi để tránh rủi ro tín dụng các Ngân hàng chỉ thực hiện đầu ư tập trung vào đơn vị cá triển vọng sản xuất kinh doanh.

Tuy nhiên trong điều kiện đất nước ta hiện nay phần lớn dân cư đang sống bằng nghề nông. Ở hầu hết các tỉnh miền núi vấn đề đưa máy móc vào nông nghiệp còn rất hạn chế nguyên nhan ở đây là do thiếu vốn.

Vì vậy trong giai đoạn trước mắt thông qua công tác tín dụng, Nhà Nước cần tập trung vào phát triển nông nghiệp để giải quyết những nhu cầu tối thiểu của xã hội, đồng thời tạo điều kiện phát triển các ngành kinh tế khác.

Bên cạnh đó nước ta đang trên con đường công nghiệp hoá hiên đại hoá tham gia vào các quan hệ mang tính chất quốc tế. Bởi vậy chúng ta cần phải tập trung vào việc phát triển các ngành mũi nhọn như: công nghiệp chế biến, dầu khí,…và tín dụng Ngân hàng là một trong những yếu tố cơ bản góp phần quan trọng vào việc phát triển các ngành này. Với một chính sách tín dụng và mức lãi suất hợp lý sử dụng trong việc khuyến khích phát triển một số ngành kinh tế mũi nhọn là một công cụ linh hoạt tích cực trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế, góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiêp hoá hiện đại hoá một cách nhanh chóng và vững chắc.

Thứ tư, tín dụng ngân hàng thúc đẩy các doanh nghiệp tăng cường chế độ kiểm toán, giúp các doanh nghiệp khai thác có hiệu quả tiềm năng kinh tế trong hoạt động kinh doanh vì các ngân hàng chỉ cho vay vốn khi các doanh nghiệp làm ăn có lãi.

Thứ năm, tín dụng NH có vai trò quan trọng trọng việc thúc đẩy quá trình mở rộng mối quan hệ giao lưu quốc tế. Ngày nay mối quan hệ kinh tế giữa các nước trên thế giới và khu vục đang phát triển đa dạng cả về nội dung lẫn hình thức, cả về bề rộng lẫn chiều sâu. Qua hoạt động tín dụng, ngân hàng sẽ là trợ thủ đắc lực cung cấp vốn cho các nhà đầu tư kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá. Do vậy tín dụng ngân hàng trở thành một trong những phương tiện để nối liền nền kinh tế các nước, đặc biệt là các nước đang phát triển trong việc mở rộng sản xuất hàng hoá.

Phân loại tín dụng ngân hàng

Căn cứ vào thời hạn cho vay

Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (Luật số: 47/2010/QH12)

Tín dụng ngắn hạn

Là loại tín dụng có thời hạn tới 12 tháng, được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân và thường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong dư nợ tín dụng của các ngân hàng.

Tín dụng trung hạn

Là loại tín dụng có thời hạn trên 12 tháng đến 60 tháng. Loại hình tín dụng này thường được các doanh nghiệp sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hay đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án có quy mô nhỏ và thời hạn thu hồi vốn nhanh.

Tín dụng dài hạn

Là loại tín dụng có thời hạn trên 60 tháng. Loại tín dụng này để đáp ứng nhu cầu dài hạn của các doanh nghiệp: nhu xây dựng nhà xưởng, thiết bị phương tiện vận tải có quy mô lớn, các công trình xây dựng nhà, sân bay, cầu đường…

Phân loại tín dụng ngân hàng
Phân loại tín dụng ngân hàng

Căn cứ vào phương thức cấp tín dụng:

        Theo hình thức cấp tín dụng có thể chia thành chiết khấu, cho vay, bảo lãnh và cho thuê…

Cho vay

Là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong thời gian xác định. Cho vay là tài sản lớn nhất trong khoản mục tín dụng. Thời gian khoản vay là khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng nhận hồ sơ vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi vốn vay đã được thoả thuận trong hợp đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng và khách hàng.

Chiết khấu

Là việc ngân hàng ứng trước tiền cho khách hàng tương ứng với giá trị thương phiếu trừ đi phần thu nhập của ngân hàng để sở hữu một thương phiếu chưa đến hạn (hoặc một giấy nợ)

Cho thuê

Là việc ngân hàng bỏ tiền mua tài sản để khách hàng thuê với những thoả thuận nhất định, sau thời gian nhất định khách hàng phải trả cả gốc lẫn lãi cho ngân hàng.

Cho thuê của ngân hàng thường là hình thức tín dụng trung và dài hạn. Thời hạn thuê khách hàng có thể mua lại tài sản đó. Ngân hàng thương mại được hoạt động cho thuê tài chính nhưng phải thành lập công ty cho thuê tài chính riêng. Việc thành lập, tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính được thực hiện theo nghị định của chính phủ về tổ chức và hoạt động của các công ty cho thuê tài chính.

Bảo lãnh

Là việc ngân hàng cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính hộ khách hàng của mình. Mặc dù không phải xuất tiền ra song ngân hàng đã cho khách hàng sử dụng uy tín của mình để thu lợi.

Ngân hàng thương mại được bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh đấu thầu và các hình thức bảo lãnh ngân hàng khác bằng uy tín và khả năng tài chính của mình đối với người nhận bảo lãnh. Theo quy định chung mức bảo lãnh đối với một khách hàng và tổng mức bảo lãnh của một ngân hàng thương mại không vượt quá tỷ lệ vốn tự có của ngân hàng thương mại.

Căn cứ vào tiêu thức đảm bảo

Tín dụng đảm bảo bằng tài sản

Là loại tín dụng được đảm bảo bằng các loại tài sản của khách hàng, bên bảo lãnh hoặc hình thành từ vốn vay.

Tín dụng đảm bảo không phải bằng tài sản

Là loại tín dụng được đảm bảo dưới các hình thức tín chấp, cho vay theo chỉ định của Chính phủ và hộ nông dân vay vốn được bảo lãnh của các tổ chức đoàn thể, chính quyền địa phương.

Căn cứ vào xuất xứ tín dụng

Tín dụng trực tiếp

Ngân hàng cấp tín dụng trực tiếp cho người đi vay đồng thời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng.

Tín dụng gián tiếp

Là khoản cho vay được thực hiện thông qua việc mua lại các khế ước hoặc các chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán

Căn cứ vào mục đích tín dụng

 

Cho vay phục vụ sản xuất công thương nghiệp

Cho vay tiêu dùng

Cho vay bất động sản

Cho vay nông nghiệp

Cho vay kinh doanh xuất nhập khẩu.

 

Căn cứ vào hình thức hoàn trả nợ

 

Cho vay trả nợ một lần khi đáo hạn

Cho vay có nhiều kỳ trả nợ hay còn gọi là cho vay trả góp

Cho vay trả nợ từng lần nhưng không có kỳ hạn trả nợ cụ thể, tuỳ vào khả năng tài chính của người đi vay co thể trả nợ bất cứ lúc nào